Monday, May 26, 2014

0 Lịch tiêm phòng và bổ sung Canxi cho bà bầu

1, Tôi đang mang bầu tuần thứ 16, tôi chưa tiêm phòng gì cả .Vậy tôi muốn hỏi lịch tiêm phòng cho phụ nữ có thai như thế nào và cần tiêm những vacxin gì? Nên tiêm phòng từ tuần thứ mấy và tiêm đến khi nào? 2, Bác sỹ kê đơn cho tôi uống canxi corbiere dạng ống và viên uống Obimin nhưng tôi thường xuyên bị táo bón. Vậy tôi muốn hỏi cần bổ sung những gì và có cần uống thêm vitamin C để hạn chế đi táo nữa không và nếu bổ sung thì liều lượng ra sao?ng từ tuần thứ mấy v

(Bùi Tuyết Hồng)
Trả lời: 
Chúng tôi xin trả lời các câu hỏi của bạn như sau:

I. Lịch tiêm phòng đối với thai phụ: 

Sách chuẩn quốc gia ở nước ta quy định về tiêm phòng uốn ván cho thai phụ như sau:

1. Thai phụ hoàn toàn chưa được tiêm phòng uốn ván thì hẹn tiêm 2 mũi cách nhau ít nhất 1 tháng và trước sinh ít nhất 15 ngày. Nếu thai phụ đến đăng ký sớm thì tiêm mũi đầu vào tháng thứ 4 hoặc 5 và mũi thứ hai sau đó 1 tháng.

2. Thai phụ đã tiêm phòng uốn ván đủ 2 mũi hoặc mới chỉ tiêm 1 mũi trước đây thì hẹn tiêm 1 mũi vào tháng thứ 4 hoặc thứ 5.

3. Thai phụ khi còn nhỏ đã được tiêm chủng mở rộng 3 mũi bạch hầu, ho gà, uốn ván thì tiêm thêm 1 mũi vào tháng thứ 4 hoặc thứ 5.

4. Thai phụ đã được tiêm phòng 3-4 mũi uốn ván từ trước, lần tiêm cuối cùng đã trên 1 năm thì tiêm thêm 1 mũi nhắc lại.

5. Thai phụ đã được tiêm 5 mũi uốn ván. Không cần tiêâm bổ sung, vì với 5 mũi khả năng bảo vệ trên 95%. Nhưng nếu mũi thứ 5 đã trên 10 năm thì nên tiêm nhắc lại.

Như vậy, dù đã tiêm 4-5 mũi từ trước thì lần có thai sau đã quá 1 năm vẫn cần tiêm nhắc lại.

Uốn ván là bệnh do vi khuẩn Clostridium tetani tiết độc tố thần kinh mạnh gây ra, phát triển trong mô hoại tử của những vết thương bẩn và trong dây rốn nếu như cuộc sinh không sạch. Tạo miễn dịch bằng biến độc tố uốn ván - độc tố đã bị mất hoạt lực. Mọi trẻ đều cần được tiêm biến độc tố uốn ván vào tuần thứ 6, 10 và 14 sau sinh.   

II. Điều trị táo bón cho thai phụ trong thời kỳ mang thai:

Táo bón là một vấn đề ở đường tiêu hóa xảy ra khá phổ biến trong thời kỳ mang thai, nhất là ở những tháng cuối. Theo một số nghiên cứu gần đây, khoảng 11-35% số phụ nữ mang thai bị táo bón trong 3 tháng cuối, tuy nhiên chỉ có khoảng 1,5% số trường hợp phải dùngthuốc nhuận tràng.

Táo bón có thể mới xuất hiện hoặc đã có từ trước nhưng nặng lên trong thời kỳ mang thai. Các nghiên cứu trên cả người và động vật cho thấy, giảm nhu động ruột do những thay đổi về nội tiết trong thời kỳ mang thai là yếu tố quan trọng gây ra táo bón trong giai đoạn này. Các nguyên nhân khác bao gồm uống viên sắt để bù sắt, chế độ ăn ít chất xơ, giảm hoạt động thể lực, sự chèn ép của thai và yếu tố tâm lý.

Về điều trị, cần khuyên người bệnh tạo thói quen đi ngoài đều đặn, tốt nhất là vào buổi sáng và sau các bữa ăn vì lúc này đại trực tràng có nhu động mạnh nhất. Ngoài ra, người bệnh cần lưu ý uống nhiều nước, ăn tăng chất xơ và có chế độ vận động phù hợp.

Các chất xơ từ ngũ cốc, cam, chanh và cây họ đậu có tác dụng kích thích hệ vi khuẩn đường ruột và hiệu quả khá tốt trong điều trị táo bón. Với những biện pháp không dùng thuốc này, biểu hiện táo bón thường bắt đầu giảm dần sau 3-5 ngày và hết hẳn sau 2-3 tuần.

Thuốc chống táo bón cần được sử dụng khi những biện pháp nêu trên không tác dụng, các thuốc này thường có hiệu quả tương đối sớm, sau 1-3 ngày. Nhiều loại thuốc chống táo bón có thể được sử dụng an toàn cho phụ nữ có thai như: sorbitol, lactulose, polyethylene glycol, senna (cây muồng)... Tuy nhiên, sorbitol và lactulose có thể gây chướng bụng, đầy hơi, buồn nôn và nôn. Ngoài ra, do có chứa cả đường galactose và lactose nên lactulose cần được dùng thận trọng ở những người bị tiểu đường. Các thuốc tránh dùng cho phụ nữ có thai bao gồm dầu thầu dầu (vì có thể gây co cơ tử cung) và các loại muối tăng thẩm thấu như magne sulfate (vì có thể gây rối loạn nước, điện giải.

III. Thông tin thuốc bạn đang sử dụng:

1. Canxi corbiere:

Khi mang thai cơ thể bạn sẽ cần một lượng canxi rất lớn. Trong 2-3 tháng đầu nhu cầu là 800mg, nhưng ba tháng giữa là 1.000mg, ba tháng cuối và khi nuôi con bú là 1.500mg vì thai càng lớn thì xương thai nhi càng phát triển. Để bổ sung canxi hợp lý, bạn có thể dùng các lọai thức ăn giàu canxi hoặc thêm thuốc uống.

Canxi là thành phần có sẵn trong các thực phẩm ăn uống hằng ngày. Những loại thực phẩm chứa nhiều canxi như: cua đồng (5.040mg%, tức có 5.040mg canxi trong 100g cua); tôm đồng (1.120mg%); sữa bột (939mg%), sữa bò và dê tươi (147mg%). Trong các loại thức ăn thực vật thì vừng (1.200mg%), rau cần (325mg%), cà rốt (323mg%) sữa bột đậu nành (224mg%)...

Tuy vậy không phải ăn vào bao nhiêu canxi thì cơ thể hấp thu được hết. Tùy theo loại thức ăn, ví dụ sữa bò có lượng canxi cao hơn trong sữa mẹ nhưng lại khó hấp thu hơn. Cũng tùy cơ thể mỗi người, tùy thành phần của phospho và vitamin D mà sự hấp thu canxi nhiều hay ít. Vì vậy việc ăn uống đầy đủ với thức ăn đa dạng, nhiều rau, củ, quả, không kiêng khem quá mức. Chọn thức ăn có nhiều canxi là điều cần thiết, tránh được tình trạng thiếu canxi cho cả mẹ và thai. Khi dùng thuốc khó khăn, việc bổ sung canxi trong thực phẩm là ưu tiên trong lựa chọn của bạn.

Có thể cung cấp canxi cho cơ thể bằng các loại thuốc có canxi. Thuốc chứa canxi có nhiều loại khác nhau như: Calcium corbière, Calcium Sandoz, Tonicalcium, Calcifort, Calci D, …

Tuy nhiên mọi thứ thuốc và cách dùng thuốc phải có sự chỉ dẫn của thầy thuốc để tránh quá liều có thể dẫn đến tình trạng tăng canxi huyết quá mức và lượng canxi dư thừa dễ tạo thành sỏi đường tiết niệu.

2. Obimin

Obimin đáp ứng nhu cầu về vitamine và chất khoáng trong suốt thời kỳ mang thai và cho con bú, thời kỳ mà người phụ nữ thường bị thiếu dinh dưỡng do phải thỏa mãn thêm những nhu cầu của thai nhi, do phải chống lại những tác nhân gây stress trong thời kỳ mang thai, những khó khăn khi sinh nở và cho con bú.

Vitamine B1 : ngăn ngừa hay điều trị bệnh béribéri thường gặp trong lúc có thai và thời kỳ vị thành niên.

Vitamine B6 : ngăn ngừa co giật do thiếu hụt pyridoxine trong thời kỳ vị thành niên, kiểm soát chứng buồn nôn, nôn mửa, viêm dây thần kinh và nhiễm độc huyết trong thời kỳ mang thai.

Các vitamine nhóm B giúp phòng ngừa và hiệu chỉnh sự thiếu hụt vitamine thường gặp trong thời kỳ mang thai và cho con bú.

Các tác nhân chống thiếu máu : giúp ngăn chặn chứng thiếu máu trong thời kỳ mang thai ; phòng ngừa chứng thiếu máu do thiếu chất sắt và thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ thứ phát do thiếu folate. Sắt ở dạng ferrous fumarate được hấp thu tốt nhất.

CHỈ ĐỊNH

Bổ sung đầy đủ nguồn vitamine và một số ion tối cần cho sản phụ trong thời kỳ trước và sau khi sanh, và góp phần hiệu chỉnh những tình trạng rối loạn thường gặp trong thời kỳ mang thai như buồn nôn và nôn mửa, thiếu máu, chứng tê phù (béribéri), chứng viêm dây thần kinh và chuột rút.

LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG

Mỗi ngày một viên hoặc theo sự chỉ định của bác sĩ.

Chúc bạn có một thai kỳ khoẻ mạnh!
Bs.Thuocbietduoc




0 Lịch khám thai, tiêm phòng cho bà bầu


Thoi_trang_bau

Ngay từ khi lọt lòng mẹ, trẻ em đã cần tiêm chủng vacxin phòng bệnh và lịch tiêm chủng được hoàn tất trước khi trẻ trưởng thành. Nếu một người phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ đã được tiêm chủng đủ loại vacxin phòng bệnh thì khi có thai họ không cần phải tiêm chủng phòng bệnh nữa

Tiêm phòng trước và trong khi mang bầu - không thể bỏ qua (google image)

Để phòng bệnh uốn ván, bà mẹ cần được tiêm hai mũi vacxin phòng uốn ván trong khi có thai

Tuy nhiên, có những người đó thì vẫn cần phảI tiêm chủng một số loại vacxin nào đó để phòng ngừa các tai biến nghiêm trọng cho cả mẹ và con.

Ví dụ: với các bà mẹ Việt Nam hiện nay khi có thai thì hầu hết trong số họ chưa có ai đã tiêm đủ liều vacxin phòng uốn ván để có thể có miễn dịch suốt đời (5 lần tiêm trong 3 năm với khoảng cách từ một tháng đến sáu tháng rồi một năm),

Vì thế để phòng bệnh uốn ván, bà mẹ cần được tiêm hai mũi vacxin phòng uốn ván trong khi có thai. Mũi thứ hai tiêm sau mũi thứ nhất ít nhất 4 tuần (một tháng) và mũi thứ hai phải tiêm trước ngày đẻ ít nhất một tháng thì mới bảo đảm kết quả phòng tránh được bệnh.

Sở dĩ người ta ít nhiều e ngại không muốn tiêm chủng vacxin cho người có thai vì hai lý do:

+ Nhiều vacxin được bào chế từ vi sinh vật còn sống chỉ giảm độc lực (để không gây bệnh cho người được tiêm) sẽ có thể trở thành nguy cơ đối với thai nhi.

+ Sau khi tiêm chủng, phản ứng phụ của một số loại vaxin quá mạnh có thể làm cho mẹ bị sốt cao và từ đó ảnh hưởng xấu cho thai.

Cho đến nay, khoa học đã xếp các vacxin đối với người có thai thành ba nhóm:

- Nhóm 1: bao gồm những vacxin hoàn toàn vô hại đối với thai, ngược lại còn tác dụng bảo vệ thai sau khi đẻ ra trong vài tháng đầu tiên nhờ chất kháng thể của mẹ có được sau khi tiêm chủng đã chuyển sang con qua hàng rào rau thai. Đó là các vacxin phòng uốn ván, vacxin chống viêm gan virút B, vacxin phòng bại liệt bào chế từ những virut đã bất hoạt, vacxin phòng cúm .

- Nhóm 2: là những vacxin có thể tiêm chủng trong một số hoàn cảnh như vacxin phòng bệnh tả (khi có dịch ở khu vực người mẹ sống), vacxin phòng bệnh dại (khi bà mẹ bị chó dại cắn hoặc chó nghi ngờ bị dại cắn), vacxin chống bệnh sốt vàng.

- Nhóm 3: là các vacxin không được dùng cho các bà mẹ đang có thai, bao gồm vacxin phòng bạI liệt uống (chế bằng vi rút giảm độc lực) của Sabin, vacxin chống bệnh ho gà, bạch hầu, thương hàn, sởi, quai bị và lao (BCG).

Lịch tiêm phòng, khám thai cho thai phụ :

Lần 1: Tuần thứ 5
- Siêu âm 2D (kiểm tra túi phôi trong buồng tử cung)
- Khám thai, kiểm tra nội tiết
- Uống thuốc vi chất dinh dưỡng
- Uống (tiêm) thuốc nội tiết (nếu cần)

Lần 2: Tuần thứ 8

- Siêu âm 2D (kiểm tra tim thai)
- Khám thai, kiểm tra nội tiết
- Uống thuốc vi chất dinh dưỡng
- Uống (tiêm) thuốc nội tiết (nếu cần)

Lần 3: Tuần thứ 12

- Siêu âm 4D (kiểm tra hình thái thai nhi)
- Khám thai, kiểm tra nội tiết
- Uống thuốc vi chất dinh dưỡng
- Uống (tiêm) thuốc nội tiết (nếu cần)

Lần 4: Tuần thứ 16

- Siêu âm 2D
- Khám thai, kiểm tra nội tiết
- Xét nghiệm máu (Tripple test)
- Uống thuốc vi chất dinh dưỡng
- Uống canxi, sắt và magie B6
- Uống (tiêm) nội tiết (nếu cần)

Lần 5: Tuần thứ 20


- Siêu âm 2D
- Khám thai, kiểm tra nội tiết
- Uống thuốc vi chất dinh dưỡng
- Uống thuốc canxi, sắt, magie B6
- Kiểm tra thai máy (3 lần / ngày)

Lần 6: Tuần thứ 22

- Siêu âm 4D (kiểm tra hình thái thai nhi)
- Kiểm tra thai máy (3 lần / ngày)

Lần 7: Tuần thứ 26

- Siêu âm 2D
- Khám thai, kiểm tra nội tiết
- Uống thuốc vi chất dinh dưỡng
- Uống thuốc canxi, sắt, magie B6
- Kiểm tra thai máy (3 lần/ ngày)

Lần 8: Tuần thứ 30

- Xét nghiệm máu, thử tiểu
- Làm thủ tục đăng ký đẻ
- Tiêm phòng uốn ván (AT1)
- Khám thai, siêu âm 2D
- Uống vi chất dinh dưỡng
- Uống canxi, sắt
- Bắt đầu ăn nhạt cho đến khi sinh

Lần 9: Tuần thứ 32

- Siêu âm 4D (kiểm tra hình thái thai nhi)
- Khám thai
- Thử tiểu
- Uống thuốc vi chất dinh dưỡng, canxi, sắt

Lần 10: Tuần thứ 34

- Khám thai, thử tiểu, siêu âm
- Tiêm phòng uốn ván (AT2)
- Uống thuốc vi chất dinh dưỡng, canxi, sắt

Lần 11: Tuần thứ 36

- Khám thai, thử tiểu, siêu âm
- Uống thuốc vi chất dinh dưỡng, canxi, sắt

Lần 12: Tuần thứ 38

- Khám thai, thử tiểu, siêu âm
- Uống thuốc vi chất dinh dưỡng, canxi, sắt

Lần 13: Tuần thứ 39

- Khám thai, thử tiểu, siêu âm
- Uống thuốc vi chất dinh dưỡng, canxi, sắt

Lần 14: Tuần thứ 40

- Khám thai, thử tiểu, siêu âm
- Uống thuốc vi chất dinh dưỡng, canxi, sắt

Mẹ đừng quên tiêm phòng trước và trong khi mang bầu nhé! (google image)

Mẹ cần tiêm phòng những bệnh gì?

Rubella

Đây là bệnh lành tính, khỏi trong thời gian ngắn và hoàn toàn có thể phòng ngừa. Nếu mẹ bị nhiễm bệnh Rubella trong 3 tháng đầu hoặc tháng cuối của thai kỳ có thể gây sảy thai, sinh non hoặc em bé ra đời có dị tật. Mọi lứa tuổi đều có thể bị nhiễm Rubella. Ngay cả người khỏe mạnh nhất cũng không nên thờ ơ với bệnh này.

Trước khi tiêm phòng Rubella, bạn cần nhớ chính xác xem mình đã tiêm chủng bao giờ chưa, có thể làm xét nghiệm và cần sự tư vấn của bác sỹ.

Viêm gan B


Ở Việt Nam, rất nhiều người bị nhiễm virus viêm gan B. Trước khi có bầu, bạn cũng nên làm xét nghiệm và tiêm phòng viêm gan B. Vì bệnh này rất dễ tới bệnh ung thư gan.

Thủy đậu

Thủy đậu có thể gây sốt và vùng da nổi ban ngứa ngáy. Khoảng 2% số bé có mẹ mắc thủy đậu trong 5 tháng đầu của thai kỳ có nguy cơ mắc dị tật, gồm dị dạng hình thể, liệt chân tay. Ngoài ra, người mẹ mắc thủy đậu còn có thể chuyển virus gây bệnh này sang cơ thể con trong khi sinh nở.

Trước khi chuẩn bị có bầu, bạn cũng nên tiêm phòng bệnh thủy đậu và ít nhất sau 2 tháng mới nên có em bé.

Uốn ván

Mẹ có thể tiêm phòng uốn ván trước khi mang thai hoặc trong lúc mang thai mà hoàn toàn vô hại với em bé.

Uốn ván là một chứng bệnh tác động đến hệ thần kinh trung ương, gây cứng cơ và mất nhận thức. Vi khuẩn gây uốn ván có thể được tìm thấy trong đất hay chất thải của động vật. Chúng sẽ xâm nhập vào mạch máu qua vết thương hở trên da; vì thế, thai phụ cần đi khám ngay khi có vết thương sâu hoặc vết thương nhiễm bẩn. Chứng uốn ván có thể gây nên tình trạng thai chết lưu.

Lịch tiêm vacxin uốn ván cho phụ nữ

Mũi 1: Càng sớm càng tốt khi có thai lần đầu hoặc nữ 15-35 tuổi ở vùng có nguy cơ cao. Mũi 2: Ít nhất 4 tuần sau mũi 1. Mũi 3: Ít nhất 6 tháng sau mũi 2 hoặc trong kỳ có thai sau. Mũi 4: Ít nhất 1 năm sau mũi 3 hoặc trong kỳ có thai sau. Mũi 5: Ít nhất 1 năm sau mũi 4 hoặc trong kỳ có thai sau. Không có khoảng cách tối đa giữa các mũi tiêm uốn ván.

Tiêm phòng cúm

Bạn cũng nên tiêm phòng cúm trước khi có ý định mang bầu để phòng tránh những bị hắt hơi, sổ mũi, cúm trong thời gian mang thai. Trung tâm ngăn ngừa và kiểm soát dịch bệnh Mỹ khuyến cáo, bà bầu nên tiêm phòng cúm trong mùa cúm, từ tháng 11 đến tháng 3. Văcxin phòng cúm được coi là an toàn cho sức khỏe mẹ và bé. Thời điểm tiêm phòng cúm tốt nhất là tháng 10 hoặc tháng 11 - giai đoạn cúm bùng phát mạnh.

Với trường hợp chưa tiêm phòng mà nhiễm cúm, bạn cần đi khám sớm, nghỉ ngơi và uống đủ nước. Hãy đi khám ngay nếu xuất hiện triệu chứng cúm như hắt hơi, ho hay chảy nước mũi, khó thở.


Wednesday, May 21, 2014

0 Thai phụ bổ sung sắt như thế nào thì hợp lí?

Hơn lúc nào hết, thời điểm mang thai là thời điểm nhu cầu về sắt của phụ nữ tăng cao. Nếu thiếu sắt thì cơ thể người mẹ sẽ có thể bị bệnh thiếu máu. Năng lượng của người mẹ của bị ảnh hưởng làm cho thai phụ có thể sinh non, sinh con nhẹ cân hoặc thai nhi, bé sơ sinh sẽ tử vong.
1.  Khi mang thai, cơ thể bạn cần nhiều sắt hơn
Cơ thể bạn cần nhiều sắt thậm chí khi bạn không mang thai vì những lý do sau đây:
- Sắt là thành phần cốt yếu tạo ra hemoglobin, protein trong hồng cầu mang ôxy tới các tế bào khác.
- Là thành phần quan trọng cấu thành: myoglobin – một loại protein cung cấp ôxy cho các cơ; collagen – một loại protein có trong xương, sụn và các mô liên kết khác; enzyme - giúp duy trì hệ thống miễn dịch.
Nhưng trong thai kỳ, bạn cần nhiều sắt hơn bình thường vì: Khi mang thai, lượng máu của bạn tăng lên nhiều hơn bình thường khoảng 50%. Vì thế, bạn cần nhiều sắt hơn để tạo ra nhiều hemoglobin.
2. Bà bầu cần bao nhiêu sắt trong thai kỳ?
- Theo các chuyên gia thì bà bầu cần khoảng 27mg/ngày; khoảng 18mg/ngày trước khi thụ thai. Nguyên nhân là do cơ thể bạn hấp thu sắt hàng ngày song bạn có thể không đủ sắt từ thực phẩm bạn ăn. Chính vì vậy mà trong lần khám thai đầu tiên, các bác sỹ có thể gợi ý cho bạn uống sắt tổng hợp. Tuy nhiên, khi uống viên sắt bạn nên tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ và hết sức tránh lạm dụng nó. Với loại viên sắt có hàm lượng là 60 mg sắt nguyên tố nên bạn chỉ phải uống một viên mỗi ngày trước khi đi ngủ.
Bên cạnh đó, nhu cầu sắt cần thiết cho người mang thai ở từng thời kỳ là khác nhau. Thời kỳ giữa (từ tháng thứ ba đến tháng thứ sáu) và thời kỳ cuối (từ tháng thứ 6 đến khi sinh), nhu cầu sắt tăng lên rõ rệt. Do vậy, bạn cần điều chỉnh hàm lượng sắt uống vào cơ thể tuỳ theo từng giai đoạn khi mang bầu. Thời gian này, bà bầu nên uống viên sắt và axit folic, ngày hai viên sau bữa ăn.
3. Nguồn thực phẩm chứa nhiều sắt
- Thịt đỏ chính là một nguồn thực phẩm tốt nhất chứa sắt dành cho bạn.
- Gan cũng chứa một lượng sắt cực cao nhưng vì nó cũng chứa một lượng lớn vitamin A không an toàn, vì thế mà nên hạn chế trong thai kỳ.
- Các loại thịt lợn, gia cầm, cá cung cấp sắt heme mà cơ thể dễ hấp thu hơn là sắt không heme có trong các thực phẩm như rau xanh, các cây họ đậu, ngũ cốc.
- Thêm một chút cá vào bữa ăn sẽ giúp cơ thể hấp thu sắt dễ dàng hơn từ các thực phẩm khác trong đĩa ăn của bạn.
* Dưới đây là một vài mẹo nhận sắt từ các thực phẩm bạn ăn:
VitaminC có khả năng làm hấp thụ sắt, nên bạn có thể uống viên sắt chung với nước cam hoặc nước trai cây và ăn nhiều rau xanh để thuốc được hấp thụ tốt hơn.
- Nấu ăn bằng chảo sắt, gang. Tinh chất axit trong thức ăn như cà chua đặc biệt hấp thu sắt theo cách này.
- Giảm trà và cà phê hoặc uống chúng trong bữa ăn. Chúng chứa đựng các thành phần làm giảm sự hấp thu sắt của bạn.
- Rau bina, những sản phẩm từ đậu nành và sản phẩm từ sữa cũng làm giảm lượng hấp thu sắt. Không hẳn là bạn phải cắt giảm hoàn toàn những thực phẩm này khỏi bữa ăn của mình mà lựa chọn thời gian thích hợp để ăn giúp chúng không làm giảm lượng sắt từ các thực phẩm giàu sắt.
- Bạn không nên uống bổ sung viên sắt cùng thời điểm với canxi hay bổ sung các loại axit amin vì chúng sẽ làm giảm khả năng hấp thụ sắt của cơ thể.
Thạc sĩ Tô Minh Hương- Phó giám đốc, Trưởng khoa Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cho biết, việc bổ sung sắt trong thời kỳ mang thai là hết sức cần thiết, bởi nếu thiếu sắt, người mẹ sẽ luôn ở trong tình trạng mệt mỏi, dễ bị choáng và u uất.
Khoa học cũng đã chứng minh mối liên quan giữa việc người mẹ thiếu sắt và việc sinh con thiếu cân bởi tình trạng suy dinh dưỡng, chậm phát triển thường xuất hiện trong khi thai nhi còn nằm trong tử cung.
 Hơn nữa, khi sinh con, nguy cơ chảy máu và hậu sản do viêm nhiễm ở người mẹ bị thiếu sắt cao hơn người bình thường. Do vậy, theo bác sĩ Hương, không chỉ những phụ nữ đã mang thai mà ngay cả những người có dự định mang thai cũng nên bổ sung sắt bằng cách uống viên sắt.  



Monday, May 19, 2014

0 Nước ngoài dạy con sử dụng tiền như thế nào?

Một trong những bài học đặc biệt quan trọng mà rất ít mẹ Việt dạy cho con đó là bài học vỡ lòng về tiền: cách chi tiêu và tiết kiệm tiền. Từ trước đến nay, chúng ta luôn quan niệm rằng tiền là vấn đề của người lớn và rất ít chị em có ý định nói với con về vấn đề này.
Chúng ta không biết rằng, bằng phương pháp truyền đạt phù hợp, mẹ sẽ giúp bé rèn luyện và hình thành thói quen chi tiêu hợp lý. Điều này không chỉ giúp cho cuộc sống của bé sau này mà còn làm cho bé hiểu bố mẹ đã và đang phải kiếm tiền vất vả thế nào.
Là một bà mẹ của đứa con gái 5 tuổi, tôi cũng chưa từng nghĩ tiền có trong danh mục các bài học “về thế giới người lớn” đầu tiên mà tôi dạy cho con. Tuy nhiên, sau một lần dắt con đi siêu thị, một cuộc gặp gỡ tình cờ đã làm tôi thay đổi hoàn toàn.
Hôm ấy, nhân dịp nghỉ cuối tuần, tôi dắt con gái đi mua sắm tại một siêu thị nhỏ bán đồ nhập khẩu gần nhà. Hầu như siêu thị này chỉ có người nước ngoài mua sắm. Hai mẹ con đang mải mê xem đồ thì bỗng tôi để ý thấy một cảnh tượng thú vị: Một bà mẹ Tây cùng cô con gái khoảng 6,7 tuổi đang ngồi xụp xuống đất nhẩm đếm rất nhiều tiền lẻ đựng trong một lọ thủy tinh nhỏ. Như nhận ra ánh mắt tò mò của tôi, chị quay ra cười và chúng tôi trở thành bạn với nhau từ đó. 
Sau này, càng tiếp xúc nhiều với Sarah, tôi càng nhận ra được những phương pháp dạy con rất độc đáo của bà mẹ trẻ người Mỹ này. Sarah kể với tôi về chuyến thực hành của bài học “Những chiếc lọ thủy tinh” mà chị dạy con, về những cách chị dạy con cách quản lý chi tiêu ngay từ khi còn là một đứa bé.
Bài học 5 bước dạy con tiêu tiền tôi học được của Sarah là những điều tâm đắc tôi muốn chia sẻ lại cho các bà mẹ Việt. 

Bước 1: Giới thiệu với con về hệ thống những chiếc lọ
Đầu tiên, chị chuẩn bị 4 chiếc lọ thủy tinh nhỏ và đưa cho bé. Trên mỗi lọ dán nhãn một mục đích mà chị muốn Lana, con gái chị học. 4 chiếc nhãn đó là các từ “tiêu”, “để dành”, “cho” và “đầu tư”. Bé sẽ dùng 4 chiếc lọ để đựng tiền mẹ cho.
Nể phục cách mẹ Mỹ dạy con "cầm tiền" - 1
Sarah đưa con 4 chiếc lọ dán nhãn 4 mục đích chị muốn dạy con (ảnh minh họa)
Lọ “tiêu”: tiền có thể được tiêu tùy ý bé
Lọ “để dành”: tiền bé tiết kiệm cho một mục đích cụ thể
Lọ “cho”: tiền bé dùng để cho người có hoàn cảnh khó khăn
Lọ “đầu tư”: đây là tiền để mẹ dạy bé cách đầu tư vào một mục đích nào đó.

Bước 2: Đưa cho con một khoản trợ cấp
Mỗi tuần, Sarah sẽ cho con một khoản tiền nhỏ có thể chia hết cho 4 lọ. Bình thường thì chị cho bé 20 nghìn đồng. Như vậy mỗi lọ sẽ có 5 nghìn. Đây được coi như ngân sách ban đầu của bé Lana. Bằng cách này, bé có thể bắt đầu tự giữ và quản lý số tiền mình có.

Bước 3: Đưa bé đi mua sắm và mang theo với lọ “tiêu”
Khi đưa con đi mua sắm, chị cho phép bé mang theo lọ “tiêu” và để con chọn một thứ mình thích ở cửa hàng. Khi bé định mua thứ gì, hai mẹ con sẽ xem giá và đếm số tiền bé có. Đây cũng là lúc tôi gặp mẹ con Sarah lần đầu khi đang thực hành bài học trong siêu thị.

Thông thường, bé sẽ không bao giờ đủ tiền để mua những món đồ bé muốn. Khi ấy, chị giúp con quyết định xem đâu là món con thích nhất, và đặt ra một kế hoạch tiết kiệm để dành tiền mua món đó. Hôm ấy là một gói kẹo trị giá 50 nghìn đồng. Vậy là từ các tuần sau, bé sẽ để tiền mẹ cho ở lọ “để dành” nhiều hơn. Khi số tiền bé để dành vẫn chưa đủ, chị sẽ giúp bé lấy tiền ở lọ “đầu tư” để “đầu tư” vào một hoạt động gì đó giúp bé kiếm thêm tiền. Lana sau đó đã nghĩ ra việc bán nước chanh cho bố mẹ và hàng xóm để “kinh doanh”!
Bước 4: Giúp con học cách quyết định nên dùng tiền để mua hay để dành
Khi bé tìm thấy một món đồ phù hợp với số tiền mình có, mẹ bé Lana sẽ để bé thoải mái mua, nhưng không quên “cảnh báo” với bé rằng nếu không mua thì bé sẽ để dành được tiền nhanh hơn để mua hộp kẹo kia.
Tôi đã chứng kiến rất nhiều bé, kể cả bé nhà tôi, khi muốn một thứ gì đó liền đòi mẹ mua bằng được và nếu không thỏa mãn thì tỏ ra cáu kỉnh và giận dỗi. Nhưng nếu mẹ áp dụng cách này, bé sẽ hiểu và tình trạng kia sẽ không bao giờ xả ra nữa.\

Bước 5: Làm mẫu cho bé
Khi đưa con đi mua sắm, Sarah luôn để bé thấy mẹ trả tiền cho người bán và nhận lại tiền thừa như thế nào. Chị cũng giải thích cho bé hiểu rằng bố mẹ phải làm việc chăm chỉ để kiếm tiền mua quần áo, thức ăn và đồ chơi cho con. Khi bé nhìn thấy thực tế bố mẹ cầm tiền tiêu, bé sẽ tiếp thu được bài học một cách hiệu quả.
Không cần phải là những kiến thức quá cao xa, các bé sẽ dễ dàng tiếp thu được bài học của mẹ qua những bước đơn giản. Tôi thầm nể phục Sarah và cảm ơn chị hết lời vì phương pháp quá tuyệt vời mà chị truyền lại cho mình.


0 Làm sao biết bé thông minh hay không?

Mong muốn “cháy bỏng” của các ông bố bà mẹ khi sinh con bao giờ cũng là có được một đứa trẻ thông minh, sau này sẽ học hành giỏi giang. Tuy nhiên, khi con chưa biết đọc biết viết, chưa đến trường để có thể dựa vào điểm số mà đánh giá trí thông minh của trẻ thì làm thế nào và bằng cách nào để biết, con có phải là một đứa trẻ “thông minh từ bé” hay không? Xin mách mẹ những biểu hiện và vài phương pháp nhỏ để thử nghiệm độ thông minh của con cũng như thỏa mãn trí tò mò của cha mẹ

Trẻ biết cười
Nhìn chung, từ 4-6 tuần sau khi sinh, trẻ sơ sinh sẽ bắt đầu mỉm cười, một số bé có thể muộn hoặc sớm hơn. Nụ cười đầu tiên của trẻ thường xảy ra khi con thức dậy sau một giấc ngủ, sau này, bé có thể bắt đầu cười thành tiếng nhỏ.
Một số chuyên gia nghiên cứu tâm lý trẻ em thấy rằng qua nụ cười của trẻ sơ sinh cũng có thể biết được tình hình phát triển trí tuệ bé. Những đứa trẻ sơ sinh cười sớm, thích cười, hay cười thường phát triển trí tuệ tốt hơn. Nếu em bé sinh ra đã được 8-10 tuần nhưng vẫn không cười, đó có thể là một biểu hiện không tốt về trí thông minh.

Mức độ hoạt động mắt, tiếp xúc mắt – mắt linh hoạt
Trẻ mới sinh có thể nhìn trực quan trong phạm vi 60cm và nhìn rõ trong khoảng 20cm. Khi được 4-6 tuần, bé có thể xoay đồng tử và nhìn theo các hoạt động của mẹ. 12 tuần có thể quay mắt về phía tiếng nói của mẹ, 12-16 tuần có thể nhìn thấy mẹ bắt đầu cho ăn và mở miệng chờ đợi. Khả năng tiếp xúc  mắt – mắt, nhìn được vào mắt mẹ khi nói cũng là một dấu hiệu để nhận biết trẻ tự kỷ hoặc có phát triển tâm lý không bình thường. Chính vì vậy, những em bé hoạt động mắt tốt, tiếp xúc mắt nhanh nhẹn, lanh lợi cũng là biểu hiện của trẻ thông minh.
Nhận diện bé sơ sinh thông minh - 1
Trẻ tiếp xúc mắt mắt sớm cũng chứng tỏ thông minh (ảnh minh họa)

Trẻ hay thức, ít ngủ, thời gian tỉnh táo dài
Hầu hết trẻ sơ sinh đều ngủ tới 10-15 tiếng mỗi ngày vào khoảng thời gian mới sinh. Càng lớn lên, trẻ sẽ càng ngủ ít đi và thời gian tỉnh táo kéo dài ra. Khoa học đã chứng minh, những em bé sơ sinh thông minh thường ngủ ít (mà vẫn khỏe mạnh). Nếu một em bé ngủ quá lâu, hơn giới hạn nhất định hoặc ngủ cả ngày, người mẹ gặp khó khăn trong việc cho con bú vì bé ngủ quá nhiều…thì đó có thể và một vấn đề về trí thông minh.

Biết điều khiển ngón tay khéo léo từ sớm
Từ mới sinh trẻ đã biết nắm lấy mọi thứ, nhất là ngón tay mẹ, đây là phản ứng bản năng của con người. Tuy nhiên, việc nắm bắt này là nắm bắt phản xạ. Chỉ sau khi sinh được khoảng 3 tháng, trẻ mới có ý thức về đối tượng cầm. Những em bé biết cầm nắm đồ vật mong muốn sớm, biết chỉ tay bằng ngón trỏ, biết cầm vật nhỏ chỉ với hai ngón trỏ và ngón cái từ càng sớm càng chứng tỏ mức độ phát triển trí tuệ của bé càng vượt trội hơn so với các bé cùng lứa.

Trẻ biết theo và khóc khi thấy người lạ
Nhiều cha mẹ cho rằng con mình nhát khi cứ theo cha mẹ ông bà và khóc khi gặp người lạ. Tuy nhiên đây cũng là một biểu hiện tham chiếu cho sự phát triển não bộ của trẻ sơ sinh. Khi mới sinh ra, trẻ sơ sinh không nhận biết được con người, mọi người bế bé là như nhau. Ba tháng sau bé mới bắt đầu biết rõ ai là người quen và người lạ. Khi thấy bố mẹ ông bà, bé sẽ hay cười, đôi mắt như nhảy múa. 6 tháng, khi thấy người lạ, bé có thể xuất hiện các phản ứng như tránh né, vùi mặt vào tay mẹ, hoặc khóc to. Điều này cho thấy trẻ đã có một bộ nhớ rõ ràng. Nếu được 8 tháng mà trẻ vẫn không có hiện tượng biết quan biết lạ, điều này cho thấy một vấn đề về trí tuệ của con.

Trẻ “cả thèm chóng chán” với những món đồ chơi
Theo một khảo sát, khi cho các bé từ 9-12 tháng tuổi lựa chọn giữa một món đồ chơi quen thuộc và đồ mới, chúng sẽ có xu hướng cầm đồ chơi lạ. Thông tin thú vị đúc kết được từ khảo sát này đó là: những đứa trẻ thông minh thường luôn cần những thông tin mới để tiếp nhận và nhanh chán những thông tin cũ được lặp lại ngày qua ngày. Nhu cầu học tập.


0 Vai trò của Sắt đối với sự phát triển của trẻ em

Sắt là một yếu tố vi lượng đã được nghiên cứu từ lâu, đây là một trong 3 vi chất dinh dưỡng (vitamin A, sắt, iốt) đang được quan tâm vì sự thiếu hụt các vi chất này ở các nước đang phát triển đã và đang trở thành vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng

 Mặc dù hiện diện trong cơ thể với một lượng rất nhỏ, nhưng Sắt rất cần thiết cho sự sống, vì Sắt cần thiết cho nhiều chức năng sống :
  • Chức năng hô hấp : Tạo nên hemoglobin để vận chuyển oxy từ phổi đến tất cả các cơ quan.
  • Tham gia vào quá trình tạo thành myoglobin, sắc tố hô hấp của cơ.
  • Sắt tham gia vào cấu tạo của nhiều enzyme. Đặc biệt trong chuỗi hô hấp sắt đóng vai trò vận chuyển điện tích.
  • Sắt tăng cường hệ thống miễn dịch cho cơ thể: là thành phần của enzyme hệ miễn dịch.
Như vậy Sắt cần thiết cho tất cả mọi người, nhưng đối với trẻ em sắt vô cùng quan trọng, vì trẻ em là đối tượng dễ bị thiếu Sắt nhất do nhu cầu tăng cao, nhu cầu Sắt ở trẻ còn bú mẹ tăng gấp 7 lần so với người lớn tính theo trọng lượng cơ thể.
Vai trò quan trọng nhất của Sắt là cùng với protein tạo thành huyết sắc tố(hemoglobin) vận chuyển oxy cho nên thiếu Sắt dẫn đến thiếu máu dinh dưỡng là bệnh phổ biến ở trẻ em. Khi thiếu máu khả năng vận chuyển  oxy của hồng cầu bị giảm, làm thiếu oxy ở các tổ chức đặc biệt là tim, cơ bắp, não gây nên hiện tượng tim đập nhanh, trẻ nhỏ có thể bị suy tim do thiếu máu, các biểu hiện : hoa mắt , chóng mặt do thiếu oxy não, cơ bắp yếu và cuối cùng là cơ thể mệt mỏi. Thiếu máu não  ở trẻ lớn còn làm cho trẻ mệt mỏi hay ngủ gật, thiếu tập trung trong giờ học dẫn đến học tập sút kém. Biểu hiện của thiếu máu thiếu sắt là da xanh niêm mạc nhợt ( đặc biệt là niêm mạc mắt và môi) móng tay móng chân nhợt nhạt, móng tay dễ gày biến dạng, tóc khô cứng  dễ gãy, trẻ  thiếu máu thường biếng ăn chậm lớn, còi cọc, táo bón, ăn hay nôn trớ. Xét nghiệm máu là cách tốt nhất để chẩn đoán thiếu máu. Định lượng huyết sắc tố (Hb) nếu dưới 11g Hb trong 100ml máu ở trẻ là bị thiếu máu.
Thiếu Sắt còn ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể : ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa : trẻ biếng ăn, viêm teo gai lưỡi, khó nuốt, kém hấp thu, độ toan dạ dày giảm, ảnh hưởng đến hệ thần kinh : mệt mỏi, kích thích, rối lọan dẫn truyền thần kinh.
Sắt tham gia vào tăng cường hệ thống miễn dịch cho cơ thể, nên thiếu Sắt trẻ hay bị ốm đau do hệ thống miễn dịch suy giảm.
Muốn phòng chống thiếu Sắt cho trẻ em các bà mẹ cần phải làm gì?
  • Vì lượng Sắt ở trẻ sơ sinh lệ thuộc vào sắt của bà mẹ cho nên từ lúc mang thai bà mẹ phải ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng, nhất là các thực phẩm có chứa nhiều Sắt, có thể uống thêm viên sắt bổ sung nếu ăn uống chưa được đầy đủ.
  • Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 24 tháng.
  • Đến 6 tháng cho trẻ ăn bổ sung với đầy đủ các chất dinh dưỡng từ 4 nhóm thực ( chất bột đường, chất đạm, chất béo, vitamin và muối khoáng) đặc biệt chú trọng các loại thực phẩm giàu Sắt và vitamin C (giúp tăng cường hấp thu Sắt).
  • Giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh ăn uống để tránh nhiễm giun sán, không đi chân đất để tránh nhiễm giun móc (giun móc ký sinh ở ruột non, gây mất máu), tẩy giun định kỳ cho trẻ 6 tháng một lần.
  • Điều trị các bệnh nếu trẻ mắc phải : suy dinh dưỡng, tiêu chảy, viêm phổi, viêm tai…
  • Khi trẻ có các biểu hiện của thiếu Sắt : thiếu máu, mệt mỏi, biếng ăn, học kém…cần cho đi khám bác sĩ dể được điều trị kịp thời.
Sau đây là bảng hàm lượng Sắt trong  100g các loại thực phẩm giàu Sắt để các bà mẹ tham khảo lựa chọn thực phẩm trong các bữa ăn hàng ngày:
Thực phẩm động vật giàu Sắt ( Sắt có giá trị sinh học và tỉ lệ hấp thu cao )
Tên thực phẩm
Sắt/100g thực phẩm
(mg)
Tên thực phẩm
Sắt/100g thưc phẩm
(mg)
Tiết bò
52,6
Tép khô
5,5
Tiết lợn luộc
25,9
Tim bò
5,4
Gan bò
12
Chim bồ câu
5,4
Gan lợn
9,0
Tim gà
5,3
Gan gà
8,2
Cua đồng
4,7
Gan vịt
8,0
Tôm khô
4,6
Bầu dục lợn
7,1
Thịt bò loại I
3,1
Lòng đỏ trứng gà
7.0
Lưỡi bò
3,0
Mề gà
6,6
Thịt bò loại II
2,7
Tim lợn
5,9
Lưỡi lợn
2,4
Mực khô
5,6
Thịt dê
2,0
Lòng đỏ trứng vịt
5,6
Thịt lợn ba chỉ
1,5
 Thực phẩm thực vật giàu Sắt:
Tên thực phẩm
Sắt/100g thực phẩm
(mg)
Tên thực phẩm
Sắt/100g thưc phẩm
(mg)
Mộc nhĩ
56,1
Ớt vàng
3,6
Nấm hương khô
35
Tía tô
3,2
Cần tấy
9
Ngải cứu
3,1
Rau đay
7,7
Cần ta
3
Hạt sen khô
6,4
Dưa cải bẹ
3
Rau dền trắng
6,1
Đu đủ chín
2,6
Rau dền đỏ
5,4
Rau ngót
2,7
Rau húng
4,8
Hồng xiêm
2,3
Rau giền cơm
4,1
Quả lê
2,3
Lưu ý : khi ăn các thực phẩm giàu Sắt thì phải ăn các thực phẩm giàu vitamin C để giúp tăng cường hấp thu Sắt: ăn nhiều rau xanh và quả chín, nhất là các loại quả : bưởi, cam,  quýt, chuối, xoài… vì ăn quả vitamin C không bị mất nhiều do không phải qua chế biến.


Sunday, May 18, 2014

0 Tác dụng của Axit Folic với bà bầu và thai nhi

1. Axit folic ( acid folic) là gì?

Axit folic (hay Vitamin M và Folacin), và Folat (dạng anion) là các dạng hòa tan trong nước của vitamin B9, cần thiết cho dinh dưỡng hằng ngày của cơ thể người để phục vụ các quá trình tạo mới tế bào. Nhu cầu về chất này tăng cao ở phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh. Chất này có mặt tự nhiên trong thức ăn và cũng có thể thu từ thuốc uống bổ trợ.
 

2. Người mẹ cần bổ sung Axit Folic (Axcid folic) ít nhất một tháng trước khi thụ thai làm giảm đáng kể tỉ lệ bị khuyết tật ống thần kinh.

acid folic

- Người mẹ cần bổ sung Acid Folic (Axit folic) ít nhất một tháng trước khi thụ thai làm giảm đáng kể tỉ lệ bị khuyết tật ống thần kinh.

Để bảo vệ thai nhi trước các nguy cơ mắc dị tật bẩm sinh, người mẹ cần bổ sung Acid Folic (Axit folic) ngay từ khi dự định mang thai, bảo đảm lượng chất này trong máu đạt đến mức cần thiết ngay tại thời điểm thụ thai.
Dị tật ống thần kinh là các khiếm khuyết xảy ra khi ống thần kinh thai nhi không phát triển hoàn hoàn. Ống thần kinh thai nhi hình thành và phát triển từ rất sớm, vào tuần thứ 3 của bào thai, khi người mẹ còn chưa biết mình đã mang thai.
Vào tuần thứ 3, ống thần kinh thai nhi từ từ khép lại và sẽ khép kính hoàn toàn ở tuần thứ 4. Trong thời điểm quan trọng này, bào thai cần một lượng Acid Folic (Axit folic) vừa đủ để giúp ống thần kinh hoàn thiện. Nếu thiếu hụt Acid Folic (Axit folic), các dị tật sẽ xảy ra.
 

3. Các con số tỷ lệ trẻ sinh ra bị dị tật ống thần kinh do thiếu Acid Folic (Axit folic)

acit folic
Hằng năm, khoảng 400.000 trẻ sinh ra bị dị tật ống thần kinh. Tỷ lệ trẻ bị dị tật xảy ra cao hơn ở các nước có thu nhập thấp, trong đó có Việt Nam.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Viện Dinh dưỡng Việt Nam, hơn 50% phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi sinh sản có hàm lượng Acid Folic thấp dưới ngưỡng tối ưu để ngăn ngừa dị tật ống thần kinh. Tỷ lệ này cho thấy, cứ 2 phụ nữ Việt Nam thì có một người mang nguy cơ tiềm ẩn sinh con bị dị tật ống thần kinh.
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WTO) Phụ nữ mang thai nên ăn tối thiểu 400mcg axit folic mỗi ngày, cùng với một chế độ ăn có lợi cho sức khoẻ, để giảm nguy cơ bị khuyết tật ống thần kinh. Pro-mom cung cấp đúng liều axit folic theo khuyến nghị trong mỗi viên nang mềm.
 

4. Người mẹ cần bổ sung Acid Folic (Axit folic) như thế nào?

Để bảo vệ thai nhi, người mẹ cần bổ sung Acid Folic ngay từ khi dự định mang thai, bảo đảm lượng chất này trong máu đạt đến mức cần thiết ngay tại thời điểm thụ thai. Việc bổ sung Acid Folic đầy đủ còn giúp thai phụ giảm các nguy cơ khác như: sảy thai, sinh non, sinh con nhẹ cân. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo phụ nữ cần bổ sung đầy đủ Acid Folic ngay từ khi dự định sinh con đến khi thai nhi ít nhất 3 tháng tuổi. Bổ sung chất này trong giai đoạn tiếp theo giúp hệ thần kinh phát triển tốt nhất.
Bên cạnh đó, bào thai cũng cần được cung cấp đầy đủ nguồn dưỡng chất quan trọng để phát triển toàn diện, khỏe mạnh. Đặc biệt, các vi chất DHA, EPA giúp trẻ phát triển tối ưu về trí não từ khi còn trong bụng mẹ. Ngoài Acid Folic, các vitamin khác thuộc nhóm B, vitamin C, E, D, A, Biotin, dầu cá (chứa DHA, EPA) và các vi khoáng chất thiết yếu (Fe, Zn, Calci…) là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu cho cả mẹ và bé.
 
muốn có thai, muốn đậu thai, dinh duong mang thai, dinh dưỡng mang thai
Promom – Cung đầy đủ axit folic và các vi dưỡng chất cần thiết cho bà bầu
Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (WHO) có tới 30% phụ nữ trên thế giới thiếu máu do thiếu sắt và sẽ rất nguy hiểm nếu người phụ nữ thiếu sắt mang thai: Dễ tử vong khi sinh nở hoặc đứa trẻ sinh ra sẽ bị thấp còi nguyên nhân của các bệnh đái tháo đường, béo phì, tim mạch … về sau. Chính vì thế, bổ sung sắt cho phụ nữ mang thai là chiến lược trong năm của viện dinh dưỡng Quốc Gia. Tuy nhiên, nếu bà bầu bổ sung sắt cùng với Vitamin A thì hiệu quả giảm thiếu máu rõ rệt và an toàn hơn.
Ngoài sắt, canxi cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng trong quá trình tạo xương cho trẻ. Và để hấp thụ canxi tốt, đồng thời quá trình tạo xương thuận lợi, bà bầu cần bổ sung canxi cùng với Magie và Vitamin D. Magie là chất liên quan mật thiết với canxi, trong quá trình bổ sung canxi, bà bầu chú ý tăng thêm 100 mg magie mỗi ngày.promom,dinh dưỡng cho bà bầu
Như vậy, rõ ràng các vi chất thiết yếu cho bà bầu kể trên đều liên quan mật thiết, tương tác đến nhau trong quá trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em. Chưa kể, đa phần các thai phụ đều thiếu nhiều vi chất cùng một lúc chứ không thiếu một vi chất đơn thuần.

Thực tế, các thai phụ hay bị ốm nghén nên không hấp thu được đầy đủ dưỡng chất. Ngoài ra, sở thích ăn uống cũng làm hạn chế sự dung nạp dưỡng chất ăn vào, hoặc do cách chế biến làm thực phẩm mất đi các dưỡng chất nói trên. Do đó, bạn có thể bổ sung bằng viên uống Pro- Mom dành cho phụ nữ dự định mang thai, đang mang thai đã được Bộ Y tế thẩm định và cấp phép.


 

CẨM NANG CHO MẸ VÀ BÉ Copyright © 2011 - |- Template created by O Pregador - |- Powered by Blogger Templates